Chế độ ăn cho người viêm gan cấp

Gan là cơ quan thiết yếu trong việc chuyển hóa mọi chất dinh dưỡng. Vì vậy, người mắc bệnh viêm gan cần có chế độ ăn uống phù hợp.

Khi bệnh về gan đã được xác định, người bệnh tùy giai đoạn mà có chế độ ăn phù hợp nhằm phục hồi phần nào chức năng gan và ngăn ngừa những tổn thương nặng thêm.

Nguyên tắc của chế độ ăn

Phải giảm bớt mỡ trong chế độ ăn, chế độ ăn phải có nhiều glucid (đường) để gan tạo được nhiều glycogen. Nhiều tác giả đã chứng minh rằng, chế độ ăn nhiều glucid còn làm chậm lại sự xâm nhập lipid (mỡ) vào gan; cần dùng chế độ ăn nhiều chất đạm; cần phải bổ sung thêm nhiều vitamin tan trong dầu như A, D, E, K và vitamin nhóm B.

Chế độ ăn khi mắc bệnh viêm gan cấp

Khi bị viêm gan cấp, hàng loạt các rối loạn về chuyển hóa sẽ xảy ra do tế bào gan bị hoại tử, biểu hiện là tăng men gan, chủ yếu là ALT (SGPT). Tuy nhiên, nếu điều trị kịp thời và chính xác thì tế bào gan có thể được tái tạo, chức năng gan có thể hồi phục hoàn toàn. Trong điều trị viêm gan cấp thì chủ yếu là chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý.

che-an-cho-nguoi-viem-gan-cap

Thực đơn chế độ ăn lỏng cho người bệnh viêm gan cấp giai đoạn đầu:

Trong thời gian đầu khi đang sốt: dùng nước đường, nước luộc rau. Khi sốt đã đỡ, đái nhiều thì dùng chế độ sữa + bột. Sữa là thức ăn tốt để nương nhẹ tiêu hóa, sữa tách bơ càng tốt. Sữa dùng lẫn với đường, mật, bột (cháo).

6h: sữa bò tươi 300 ml + đường 10 g.

9h: nước cam (cam 1 quả 250 g, đường 20 g).

11h: nước cháo đường 300 ml (gạo 30 g, đường 30 g).

14h: nước cam (cam 1 quả 250 g, đường 20 g).

17h: nước cháo 300 ml (gạo 30 g, đường 30 g).

20h: sữa bò tươi 300 ml + đường 10 g.

Tổng hợp thực phẩm: gạo 60 g, cam 500 g, sữa bò tươi 600 ml, đường kính 120 g.

Thành phần dinh dưỡng: năng lượng 1.236 Kcal; protid 28 g; lipid 21 g; glucid 234 g.

Nếu ăn không đủ theo đường tiêu hóa có thể truyền thêm glucose để thêm năng lượng.

Thực đơn bổ sung cho giai đoạn tiếp theo:

Khi thời gian nôn ọe đã qua, dùng chế độ sữa + bột + rau củ, nghĩa là cùng với sữa cho ăn thêm cháo, phở, quả chín (chuối), rau tươi nấu chín (trừ cải, đậu đỗ).

Năng lượng: 30 Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày.

Protid: 0,8-1 g/kg cân nặng hiện tại/ngày. Tỷ lệ protid động vật trên tổng số trên 50%.

Lipid: 10-15% tổng năng lượng. Axit béo không no một nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.

Đủ vitamin, chất khoáng và nước. Không dùng thực phẩm lạ, dễ gây dị ứng. Số bữa ăn 4-6 bữa/ngày.

Giai đoạn hồi sức cần chú ý tăng protid (chất đạm), ngoài sữa cần dùng thêm thịt, cá, trứng. Protid: tăng lên 1-1,5g/kg thể trọng. Có thể chọn 1 trong 2 thực đơn sau:

Thực đơn 1:

Bánh mì 70 g, gạo 300 g, rau 400 g, dầu 10 g, thịt nạc 80 g, đậu phụ 50 g, chuối 50 g; năng lượng: 1.572 Kcal; protid 57 g; lipid 23 g; glucid 285 g; nước 554 ml.

Sáng: bánh mì + thịt nạc.

Trưa: cơm 150 g gạo, đậu phụ kho thịt nạc (đậu phụ 70 g, thịt 30 g); canh rau (rau 200 g).

Chiều: cơm gạo 150 g, canh rau (rau 200 g), thịt xíu 50 g, chuối 1 quả.

Chú ý: Nấu nhạt nếu bệnh nhân bị phù.

Thực đơn 2:

Thịt thăn 100 g; trứng gà 40 g; sữa tươi 200 ml; dầu 8 g; gạo 300 g; rau cải 100 g; khoai 200 g; đường 25 g; năng lượng 1.723 Kcal; protid 59 g; lipid 29 g; glucid 307 g; nước 566 ml.

Sáng: sữa tươi 200 ml + đường 25 g; trứng gà 1 quả.

Trưa: cơm gạo 150 g + thịt viên hấp 50 g + canh rau nấu thịt (thịt 10 g, rau 100 g).

Chiều: cơm + khoai tây hầm thịt (khoai 200 g + thịt 40 g, dầu 8 g).

Chú ý: Nấu ít muối nếu bệnh nhân không phù. Không nấu muối nếu bệnh nhân phù (ăn nhạt).

Theo PGS.TS Trần Minh Đạo/Sức Khỏe Đời Sống